bệnh tinh hồng nhiệt
Trung tâm IVF Hồng Ngọc – Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc Add: Tầng 14, số 55 Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội. Tel: +(84-24) 3927 5568 ext 6820/6825. Mail: arthongngoc@hongngochospital.vn
Tối 15-5, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TPHCM thông tin về trường hợp của bệnh nhân 2983 (nữ, 65 tuổi). Bệnh nhân này sau một thời gian cách ly điều trị tại bệnh viện Đa khoa Khu vực tỉnh An Giang đã có diễn tiến xấu (suy hô hấp nặng tiến triển, tràn khí màng phổi phải…).
Website chuyên học tập và công nghệ Comments on: Image: Sốt Tinh Hồng Nhiệt : Bệnh Nhiễm Trùng Liên Cầu Nhóm A
làm thuốc xông hơi giúp tăng sức khỏe và da dẻ hồng hào. Hoa: Vị ngọt, tính lạnh, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, cầm tiêu chảy do nhiệt độc. Dùng chữa các chứng ho do cảm mạo: 4-12 g hoa dứa dại sắc uống; sán khí, đái dục, đái buốt, tiểu tiện không thông, nhọt mọc ở
Bệnh tinh hồng nhiệt. Hỏi: Sau một đợt viêm họng, cháu tôi bị nổi ban đỏ khắp người. Đi khám, bác sĩ chẩn đoán cháu bị bệnh tinh hồng nhiệt. Xin giải thích rõ hơn về bệnh này, bệnh có để lại di chứng gì không?
Wenn Ein Mann Sich Treffen Will. Liên cầu là các trực khuẩn Gram dương hiếu khí gây ra nhiều chứng rối loạn, bao gồm viêm họng, viêm phổi, nhiễm trùng vết thương và da, nhiễm trùng huyết, và viêm nội tâm mạc. Các triệu chứng đa dạng tuỳ cơ quan nhiễm bệnh. Các triệu chứng nhiễm trùng do liên cầu nhóm A tan huyết beta có thể bao gồm sốt viêm khớp và viêm tiểu cầu thận. Hầu hết các chủng đều nhạy cảm với penicillin, nhưng những dòng kháng macrolide gần đây đã xuất hiện. Xem thêm Nhiễm Phế Cầu Khuẩn Nhiễm Phế Cầu Khuẩn Streptococcus pneumoniae phế cầu là vi khuẩn gram dương, tan máu alpha, hiếu khí, xếp đôi. Ở Mỹ, nhiễm trùng phế cầu là nguyên nhân chính gây viêm tai giữa, viêm phổi, nhiễm trùng huyết... đọc thêm , Thấp khớp Thấp khớp đọc thêm , và Viêm amidan Viêm amidan-họng Viêm amidan-họng là tình trạng nhiễm trùng cấp ở họng, amidan khẩu cái hoặc cả hai. Các triệu chứng có thể bao gồm đau họng, nuốt đau, nổi hạch cổ và sốt. Chẩn đoán là lâm sàng, bổ sung bằng... đọc thêm . Ba loại liên cầu khác nhau được phân biệt khi chúng được nuôi cấy trên môi trường thạch máu cừu Các liên cầu tan huyết beta tạo ra những vùng tan máu rõ ràng quanh mỗi khuẩn liên cầu tán huyết Alpha thường được gọi là Streptococci viridans được bao quanh bởi sự đổi màu xanh lá cây do sự tan máu không hoàn cầu tán huyết-gamma không tan máu. Phân loại tiếp theo, dựa trên carbohydrate trong thành tế bào, phân chia liên cầu thành 20 nhóm Lancefield từ A đến H và K đến T xem bảng Phân loại của Lancefield Phân loại liên cầu *. Streptococci Viridans tạo thành một nhóm riêng biệt rất khó phân loại. Trong phân loại của Lancefield, cầu khuẩn đường ruột ban đầu được đưa vào nhóm liên cầu nhóm D. Gần đây hơn, cầu khuẩn đường ruột Nhiễm cầu khuẩn đường ruột Cầu khuẩn đường ruột là vi khuẩn gram dương, kị khí tuỳ tiện. Enterococcus faecalis và E. faecium gây ra một loạt các bệnh nhiễm trùng, bao gồm viêm nội tâm mạc, viêm đường tiết... đọc thêm đã được phân loại như một chi riêng biệt. Một số liên cầu như Phế cầu khuẩn Nhiễm Phế Cầu Khuẩn Streptococcus pneumoniae phế cầu là vi khuẩn gram dương, tan máu alpha, hiếu khí, xếp đôi. Ở Mỹ, nhiễm trùng phế cầu là nguyên nhân chính gây viêm tai giữa, viêm phổi, nhiễm trùng huyết... đọc thêm là loại tan máu alpha, tức là chúng là một loại liên cầu khuẩn viridans, và không biểu hiện kháng nguyên Lancefield. Nhóm Lancefield từ K đến V là các loài liên cầu có độc lực hạn chế có thể gây nhiễm trùng ở những người bị suy giảm miễn dịch. Nhiều Streptococci tạo ra các yếu tố độc lực, bao gồm streptolysins, DNAases, và hyaluronidase, góp phần phá hủy mô và lây lan bệnh. Một vài chủng tạo ra ngoại độc tố kích hoạt các tế bào T nhất định, kích hoạt sự phóng thích các cytokine, bao gồm yếu tố hoại tử khối u-alpha, interleukins, và các chất điều hòa miễn dịch khác. Những cytokine kích hoạt hệ thống bổ thể, đông máu, và ly giải fibrin, dẫn đến sốc, suy cơ quan và tử vong. Quan trọng nhất là S. pyogenes,tan máu beta và Lancefield nhóm A và do đó được biểu hiện như liên cầu nhóm A tán huyết beta GABHS. Các bệnh cấp tính phổ biến nhất do GABHS là Nhiễm trùng da GABHS có thể lây lan qua các mô bị ảnh hưởng và các kênh bạch huyết gây viêm bạch huyết đến các hạch bạch huyết khu vực gây viêm hạch. GABHS cũng có thể gây ra biến chứng muộn tại chỗ, như áp xe amydal Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào là các bệnh nhiễm trùng họng cấp tính thường gặp nhất ở thanh thiếu niên và thanh niên. Các triệu chứng là đau họng dữ dội, cứng hàm, giọng "khoai tây nóng"... đọc thêm , viêm tai giữa Viêm tai giữa cấp tính Viêm tai giữa cấp là nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc virut ở tai giữa, thường đi cùng với nhiễm trùng đường hô hấp trên. Các triệu chứng bao gồm đau tai, thường có triệu chứng toàn thân ví dụ... đọc thêm , viêm xoang Viêm xoang Viêm xoang là viêm các xoang cạnh mũi do nhiễm virus, vi khuẩn hoặc nấm hoặc phản ứng dị ứng. Triệu chứng bao gồm ngạt mũi, chảy mũi mủ, và đau mặt hoặc nặng vùng mặt; đôi khi đau đầu, đau nhức... đọc thêm và vãng khuẩn huyết Vãng khuẩn huyết Nhiễm khuẩn huyết là sự hiện diện của vi khuẩn trong máu. Nó có thể xảy ra một cách tự phát, trong một số trường hợp nhiễm trùng mô, khi sử dụng ống thông tiểu hoặc ống thông đường tĩnh mạch... đọc thêm . Phụ thuộc vào mức độ nhiễm trùng và độ nhạy cảm của GABHS nghiêm trọng khác bao gồm nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn huyết sau sinh, viêm nội tâm mạc, viêm phổi, và viêm do các typ liên cầu khác gây ra ít phổ biến hơn và thường bao gồm nhiễm trùng mô mềm hoặc viêm nội tâm mạc xem bảng Phân loại của Lancefield Phân loại liên cầu *. Một số trường hợp không nhiễm GABHS xảy ra chủ yếu ở một số quần thể nhất định ví dụ, liên cầu nhóm B ở trẻ sơ sinh và phụ nữ sau sinh. Người mang vi khuẩn không có triệu chứng khoảng 20%. Sốt tinh hồng nhiệt không phổ biến, nhưng sự bùng phát vẫn xảy ra. Sự lây truyền được tăng cường trong các môi trường dẫn đến sự tiếp xúc gần gũi giữa mọi người ví dụ như ở trường học hoặc các trung tâm chăm sóc ban ngày.Sốt tinh hồng nhiệt, chủ yếu ở trẻ em, thường xảy ra sau khi bị nhiễm khuẩn cầu liên cầu họng; ít phổ biến hơn, nó theo sau các nhiễm khuẩn liên cầu ở những nơi khác ví dụ da. Sốt tinh hồng nhiệt là do các chủng liên cầu nhóm A tạo ra độc tố hồng cầu, tạo ra tổn thương hồng-đỏ trên da nghiêm pháp căng da dương ban được nhìn thấy rõ nhất trên bụng hoặc ngực bên và dưới dạng các đường đỏ sẫm ở da đường Pastia hoặc xanh xao quanh thái dương. Phát ban bao gồm nhiều nốt sẩn nhỏ 1 đến 2 mm đặc trưng, tạo ra chất lượng như giấy nhám cho da. Lớp trên của vùng da đỏ trước đó thường bong ra sau khi sốt giảm. Phát ban thường kéo dài từ 2 đến 5 ngày. Các triệu chứng khác cũng tương tự như ở viêm họng do liên cầu, và tiến trình và quản lý bệnh sốt tinh hồng nhiệt cũng tương tự như các trường hợp nhiễm trùng nhóm A khác. Nhiễm trùng da bao gồmChốc lở là một nhiễm trùng da bề mặt tạo vỏ hoặc bọng nước. Viêm cân mạc hoại tử phổ biến ở người nghiện ma đây được gọi là bệnh hoại tử do liên cầu và phổ biến như là vi khuẩn ăn thịt, cùng một hội chứng do nhiều loại vi khuẩn, liên quan đến vi khuẩn kỵ khí hoặc hiếu khí, bao gồm Clostridium perfringens. Nhiễm nhiều vi khuẩn có thể xảy ra khi nguồn là ruột ví dụ sau phẫu thuật đường ruột, thủng ruột, viêm túi thừa, hoặc viêm ruột thừa.Các triệu chứng của viêm cân mạc hoại tử bắt đầu với sốt và đau khu trú không rõ điểm đau; đau tăng nhanh theo thời gian và thường là biểu hiện đầu tiên hoặc đôi khi là duy nhất. Có thể có ban đỏ lan tỏa hoặc cục bộ. Huyết khối vi mạch là nguyên nhân hoại tử thiếu máu, dẫn đến sự lan truyền nhanh và hoại tử không đối xứng. Ở 20 đến 40% bệnh nhân, các cơ lân cận bị xâm lấn. Sốc và rối loạn chức năng thận thường gặp. Tỷ lệ tử vong cao, ngay cả khi điều trị. Cơ chế mà một số chủng GABHS gây ra biến chứng muộn là không rõ ràng nhưng có thể liên quan tới phản ứng của các kháng thể kháng liên cầu đối với mô cơ trong những lý do quan trọng nhất để điều trị viêm họng GABHS viêm họng do liên cầu là để phòng thấp chứng PANDAS rối loạn thần kinh tự miễn ở trẻ em liên quan đến liên cầu nhóm A đề cập đến một tập hợp các rối loạn ám ảnh hoặc tật máy giật ở trẻ em được cho là trầm trọng hơn do nhiễm GABHS. Nuôi cấyĐôi khi xét nghiệm kháng nguyên nhanh hoặc xét nghiệm nồng độ kháng thểLiên cầu dễ dàng xác định được bằng cách nuôi cấy trên thạch máu nghiệm phát hiện kháng nguyên nhanh có thể phát hiện GABHS trực tiếp dịch ngoáy họng tức là để sử dụng tại điểm chăm sóc. Nhiều xét nghiệm sử dụng xét nghiệm miễn dịch enzym, nhưng gần đây các thử nghiệm sử dụng phương pháp miễn dịch quang học đã trở nên khả dụng. Các xét nghiệm nhanh này có độ đặc hiệu cao > 95% nhưng khác nhau đáng kể về độ nhạy 55% đến 80 đến 90% đối với xét nghiệm miễn dịch quang học mới hơn. Do đó, kết quả dương tính có thể thiết lập chẩn đoán, nhưng kết quả âm tính, ít nhất ở trẻ em, nên được xác nhận bằng nuôi cấy. Vì viêm họng do liên cầu ít phổ biến hơn ở người lớn và ít biến chứng, nhiều bác sĩ lâm sàng không nuôi cấy khi xét nghiệm nhanh âm tính trừ khi sử dụng macrolide; trong những trường hợp như vậy, cần phải kiểm tra tính nhạy cảm để phát hiện tính kháng minh kháng thể liên cầu trong huyết thanh trong thời kỳ giai đoạn hồi phục chỉ cung cấp bằng chứng gián tiếp về nhiễm trùng. Các xét nghiệm kháng thể chống liên cầu khuẩn không có ích trong chẩn đoán nhiễm GABHS cấp tính vì kháng thể có sau vài tuần nhiễm bệnh và một chỉ số kháng thể cao phản ánh một nhiễm trùng trước đó. Các kháng thể hữu ích nhất trong chẩn đoán bệnh giai đoạn sau, như thấp khớp và viêm tiểu cầu thận. Hoạt độ kháng thể liên cầu O ASO và antidesxyribonuclease B kháng DNase B bắt đầu tăng lên khoảng 1 tuần sau khi nhiễm GABHS và cao nhất khoảng 1 đến 2 tháng sau khi nhiễm trùng. Cả 2 đều có thể tăng lên trong vài tháng, ngay cả sau khi nhiễm trùng không biến chứng. Các hiệu giá được đo trong giai đoạn cấp tính và giai đoạn dưỡng bệnh, từ 2 đến 4 tuần sau đó; một kết quả dương tính được định nghĩa là sự gia tăng ≥ 2 lần hiệu giá. Một hiệu giá duy nhất lớn hơn giới hạn trên của mức bình thường gợi ý nhiễm trùng liên cầu trước tiền sử hoặc tỷ lệ lưu hành liên cầu cao trong cộng đồng. Hoạt độ ASO chỉ tăng từ 75 đến 80% trường hợp nhiễm trùng. Để chẩn đoán trong các trường hợp khó, bất kỳ một trong các xét nghiệm khác antihyaluronidase, antinicotinamide adenine dinucleotidase, antistreptokinase cũng có thể được sử dụng. Penicillin được cho trong vòng 5 ngày đầu tiên đối với viêm họng liên cầu có thể làm chậm sự xuất hiện và giảm mức độ phản ứng ASO. Bệnh nhân bị viêm mủ do liên cầu thường không có phản ứng ASO đáng kể nhưng có thể đáp ứng với các kháng nguyên khác ví dụ, chống DNAase, antihyaluronidase. Thông thường penicillin Thông thường, nhiễm trùng họng gồm sốt tinh hồng nhiệt là tự khỏi. Thuốc kháng sinh ngắn ngày ở trẻ nhỏ, đặc biệt là những người bị sốt tinh hồng nhiệt, nhưng chỉ có tác động khiêm tốn đối với các triệu chứng ở thanh thiếu niên và người lớn. Tuy nhiên, thuốc kháng sinh giúp ngăn ngừa tạo mủ tại chỗ ví dụ áp xe quanh amydal, viêm tai giữa và thấp là loại thuốc được lựa chọn dùng cho các bệnh nhiễm trùng do GABHS ở thanh quản. Không có chủng GABHS nào cho thấy kháng penicillin trên lâm sàng. Tuy nhiên, một số chủng liên cầu dường như có khả năng kháng penicilin in vitro tức là tác dụng diệt khuẩn của penicilin giảm đáng kể; ý nghĩa lâm sàng của các chủng như vậy là không rõ đơn độc tiêm benzathine penicillin G, đơn vị tiêm bắp cho trẻ nhỏ < 27 kg hoặc 1,2 triệu đơn vị tiêm bắp cho trẻ em nặng cân ≥ 27 kg, thanh thiếu niên và người uống có thể được sử dụng nếu duy trì phác đồ trong 10 ngày. Các lựa chọn bao gồm Penicillin V 500 mg 250 mg cho trẻ dưới < 27 kg sau mỗi 12 giờAmoxicillin 50 mg/kg tối đa 1 g một lần/ngày trong 10 ngày là chất thay thế hiệu quả cho penicillin VCác cephalosporin tác dụng hẹp cephalexin, cefadroxil uống cũng có hiệu quả và có thể được sử dụng trừ khi bệnh nhân có phản ứng phản vệ với penicillin. Azithromycin có thể được sử dụng trong 5 ngày điều trị, mặc dù thuốc macrolide không tác dụng với Fusobacterium necrophorum, một nguyên nhân phổ biến gây viêm họng ở thanh thiếu niên và người lớn. Trì hoãn điều trị từ 1 đến 2 ngày cho đến khi xác nhận của phòng thí nghiệm không làm tăng thời gian mắc bệnh cũng như tỉ lệ biến penicillin và beta-lactam bị chống chỉ định, sự lựa chọn bao gồm Clindamycin 600 mg 6,7 mg/kg đối với trẻ em uống mỗi 8 giờErythromycin hoặc clarithromycin 250 mg 7,5 mg/kg trẻ em uống mỗi 12 giờ trong 10 ngàyAzithromycin 500 mg 15 mg/kg đối với trẻ em một lần/ngày trong 5 ngàyVì tính kháng của GABHS đối với macrolide đã được phát hiện, nên một số cơ quan chức năng khuyến cáo rằng cần xác định tính nhạy cảm với macrolide khi sử dụng và tình trạng kháng thuốc macrolide trong cộng đồng. Clindamycin 6,7 mg/kg sau khi uống mỗi 8 giờ được ưu tiên ở trẻ em bị tái phát bệnh viêm amiđan mạn tính, có thể do những triệu chứng sau Clindamycin có hoạt tính tốt đối với tụ cầu sản xuất penicillinase hoặc nhiễm đồng thời vi khuẩn kỵ khí và không có hoạt tính với penicillin như ngăn chặn sự sản xuất độc tố nhanh hơn các loại thuốc cũng có hiệu TMP/SMX, một số fluoroquinolones, và tetracyclines không đáng tin cậy để điều trị nhiễm họng, nhức đầu, và sốt có thể được điều trị bằng thuốc giảm đau hoặc hạ sốt. Aspirin nên tránh ở trẻ em. Nghỉ ngơi và cách ly là không cần thiết. Những người tiếp xúc gần có triệu chứng hoặc biến chứng của nhiễm liên cầu nên được khám. Viêm mô tế bào thường được điều trị mà không cần nuôi cấy vì việc phân lập các sinh vật có thể là khó khăn. Do đó, các phác đồ có hiệu quả chống lại cả liên cầu và tụ cầu đều được sử dụng; ví dụ, một trong những điều sau đây có thể được sử dụng Dicloxacillin hoặc cephalexin nếu Staphylococcus aureus [MRSA] không có khả năng kháng methicillinViêm cân mạc hoại tử nên được điều trị trong đơn vị hồi sức. Cần phải phẫu thuật mở đôi khi lặp lại. Kháng sinh ban đầu được đề nghị là một beta-lactam thường là một loại thuốc phổ rộng cho đến khi xác định được nguyên nhân cộng với clindamycin. Mặc dù liên cầu vẫn nhạy cảm với betalactam, các nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng penicillin không phải lúc nào cũng có hiệu quả chống lại lượng lớn vi khuẩn vởi vì liên cầu không phát triển nhanh và có thể thiếu các protein liên kết penicillin, là mục tiêu của hoạt động penicillin. Để điều trị nhiễm khuẩn nhóm B, C, và G, thuốc được lựa chọn là PenicillinAmpicillinVancomycinCephalosporin hoặc macrolid thường có hiệu quả, cần làm kháng sinh đồ, đặc biệt là ở những người ốm yếu, suy giảm miễn dịch hoặc suy nhược và ở người có vật liệu nhân tạo. Dẫn lưu và làm sạch vết thương giúp điều trị kháng sinh hiệu gallolyticus trước là S. bovis tương đối nhạy cảm với các kháng sinh. Mặc dù S. bovis kháng vancomycin đã được báo cáo, vi khuẩn vẫn nhạy cảm với penicillin và lớn viridans streptococci nhạy cảm với penicillin G và beta-lactam khác. Kháng thuốc đang tăng lên, liệu pháp điều trị nên dựa vào kháng sinh đồ. Căn nguyên liên cầu quan trọng nhất là S. pyogenes, được biểu hiện như liên cầu nhóm A tán huyết beta GABHS.2 bệnh cấp tính phổ biến nhất do GABHS là viêm họng và nhiễm trùng biến chứng muộn, bao gồm thấp khớp và viêm tiểu cầu nghiệm nhanh tìm kháng nguyên tức là dùng cho mục đích chăm sóc đặc hiệu cao nhưng kém nhạy cảm; cần cấy máu, đặc biệt ở trẻ hoặc cephalosporin được ưu tiên dùng cho viêm họng; vì kháng thuốc macrolide đang ngày càng tăng, nên đề nghị kháng sinh đồ nếu loại thuốc đó được sử dụng. Sau đây là một số nguồn tài nguyên tiếng Anh có thể hữu ích. Vui lòng lưu ý rằng CẨM NANG không chịu trách nhiệm về nội dung của các tài nguyên này.
Mục lục Sốt tinh hồng nhiệt là bệnh gì? Nguyên nhân và con đường lây truyền sốt tinh hồng nhiệt Các yếu tố nguy cơ Dấu hiệu và triệu chứng sốt tinh hồng nhiệt Chẩn đoán và điều trị sốt tinh hồng nhiệt Sốt tinh hồng nhiệt có thể dẫn đến biến chứng nào? Cách chăm sóc và phòng ngừa bệnh sốt tinh hồng nhiệt Biện pháp phòng ngừa 1. Sốt tinh hồng nhiệt là bệnh gì? Sốt tinh hồng nhiệt là một bệnh nhiễm trùng cấp tính của amidan hay nhiễm trùng da, thường gặp ở những người trước đó có viêm họng hoặc bị chốc. Bệnh do vi khuẩn thuộc chủng liên cầu tan huyết nhóm A, đôi khi là do tụ cầu vàng gây ra. Bệnh đặc trưng bởi các chấm màu đỏ - hồng, bóng, bao phủ toàn bộ cơ thể. Độc tố của vi khuẩn liên cầu nhóm A gây ra ban trong sốt tinh hồng nhiệt. Bệnh sốt tinh hồng nhiệt thường xảy ra ở trẻ em từ 2 – 10 tuổi. Khoảng 80% trẻ trên 10 tuổi có kháng thể kháng độc tố liên cầu suốt đời, trẻ dưới 2 tuổi vẫn còn kháng thể kháng ngoại độc tố có được từ mẹ. Tỷ lệ giữa nam và nữ bị sốt tinh hồng nhiệt là như nhau. 2. Nguyên nhân và con đường lây truyền sốt tinh hồng nhiệt Nhiễm khuẩn liên cầu nhóm A chính là nguyên nhân gây ra sốt tinh hồng nhiệt. Loại vi khuẩn này tiết ra một chất độc và tạo ra những phản ứng trong cơ thể gây ban đỏ. Đôi khi những bệnh liên quan đến da như bệnh chốc cũng có thể dẫn đến sốt tinh hồng nhiệt. Sốt tinh hồng nhiệt là một bệnh truyền nhiễm. Liên cầu khuẩn nhóm A lây từ người này sang người khác qua các giọt nước bọt bắn ra từ đường hô hấp do ho, hắt hơi,... Nguồn bệnh cũng có thể có ở người mang vi khuẩn nhưng không biểu hiện triệu chứng bệnh. Theo thống kê, khoảng 15 – 20% trẻ em trong lứa tuổi đi học thuộc nhóm người lành mang vi khuẩn. Người mang vi khuẩn phải có cơ địa nhạy cảm với độc tố liên cầu khuẩn mới phát bệnh. Vì vậy, trong gia đình có 2 trẻ cùng mang vi khuẩn nhưng chỉ có 1 trẻ tiến triển thành số tinh hồng nhiệt. Sốt tinh hồng nhiệt có thể lây qua những tổn thương ở da Nguồn Internet Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây do có những tiếp xúc trực tiếp với những thương tổn ở da, dùng chung quần áo, vật dụng nhiễm khuẩn... Các yếu tố nguy cơ Trẻ đang sống trong các khu tập thể đông đúc như trường học, nhà trẻ... Trẻ trên 2 tuổi. Trẻ có tiếp xúc với người bị viêm họng hoặc nhiễm khuẩn da. 3. Dấu hiệu và triệu chứng sốt tinh hồng nhiệt Sốt tinh hồng nhiệt thường có thời gian ủ bệnh từ khoảng 1 – 4 ngày. Các triệu chứng thường là Bắt đầu với dấu hiệu sốt cao đột ngột kèm theo đau bụng, nổi hạch vùng cổ sưng to, đau đầu, buồn nôn, ăn không ngon miệng, lưỡi sưng đỏ, mệt mỏi. Ban tinh hồng nhiệt sẽ xuất hiện sau khi có dấu hiệu sốt từ 12 – 48 giờ. Vị trí xuất hiện đầu tiên sẽ là vùng dưới tai, cổ, ngực, nách, háng. Sau đó sẽ lan ra các vùng khác của cơ thể sau 24 giờ tiếp theo. Ban dạng thô, nhỏ, bóng, đồng đều, có nơi tập trung thành mảng. Khi thưởng tổn da lan rộng, sờ vào da có cảm giác như sờ vào giấy nhám. Các nếp gấp của cơ thể, đặc biệt là ở vùng nách và khủy, các mạch máu mỏng manh có thể vỡ, tạo thành các đường đỏ gọi là đường pastia, tồn tại 1 – 2 ngày sau khi ban đỏ đã biến mất. Gây ngứa ngáy. Nếu không được điều trị, tình trạng sốt và ban đỏ sẽ tiến triển nghiêm trọng vào ngày thứ 2 và từ từ về bình thường trong 5 – 7 ngày tiếp theo. Sau đó, các ban đỏ bắt đầu mờ, bong da, giống như diễn biến của bỏng nắng. Ở các vùng như nách, háng, đầu ngón tay, chân, da sẽ bong lâu hơn, thậm chí kéo dài đến 6 tuần. 4. Chẩn đoán và điều trị sốt tinh hồng nhiệt Thông thường việc chẩn đoán trẻ bị sốt tinh hồng nhiệt thường dựa vào diễn biến của bệnh và các dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng. Ngoài ra, có thể dựa vào các xét nghiệm như Nuôi cấy vi khuẩn hoặc xét nghiệm nhanh liên cầu từ bệnh phẩm vùng hầu hoặc từ hạch amidan. Định lượng kháng thể kháng deoxyribonuclease và kháng thể kháng streptolysin O ASLO. Sốt tinh hồng nhiệt có thể được chẩn đoán qua các triệu chứng lâm sàng Nguồn Internet Sau khi chẩn đoán, nếu xác định nguyên nhân là do nhiễm khuẩn liên cầu nhóm A, bác sĩ sẽ chỉ định dùng kháng sinh cho trẻ đủ liều và đủ thời gian. Thời gian điều trị khoảng 10 ngày. Thông thường, tình trạng sốt sẽ cải thiện sau 12 – 24 giờ sau khi bắt đầu dùng kháng sinh. Tuy nhiên, các biểu hiện da có thể kéo dài trong vài tuần. Lưu ý Các triệu chứng có thể sẽ thuyên giảm rất nhanh sau khi dùng thuốc. Song, không vì thế mà cha mẹ ngừng thuốc ở trẻ, vì thuốc cần phải uống đủ liều lượng để tránh các biến chứng. 5. Sốt tinh hồng nhiệt có thể dẫn đến biến chứng nào? Mặc dù hiện nay, sốt tinh hồng nhiệt đã có thể điều trị bằng thuốc kháng sinh và hầu như đã được loại bỏ ở những nước phát triển. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp trẻ bị sốt tinh hồng nhiệt có thể dẫn đến các biến chứng như Viêm xoang, viêm tai, viêm phổi, viêm não... Ngoài ra, bé cũng có thể gặp một số biến chứng nghiêm trọng hơn sau vài tuần như viêm cầu thận, viêm tủy xương... 6. Cách chăm sóc và phòng ngừa bệnh sốt tinh hồng nhiệt Trẻ bị sốt tinh hồng nhiệt cần có một chế độ chăm sóc tốt, vì thế cha mẹ cần Điều chỉnh nhiệt độ phòng bé phù hợp. Đừng cho bé mặc quá nhiều quần áo khi bé đang bị sốt. Duy trì độ ẩm của cơ thể trẻ bằng cách cho bé uống nhiều nước. Cho bé ăn những món ăn mềm và lỏng như cháo thịt bằm với hành, súp... Biện pháp phòng ngừa Sốt tinh hồng nhiệt là bệnh dễ lây nhiễm. Do đó, cha mẹ nên chú ý những điều sau để tránh lây lan cho các thành viên khác trong gia đình Dùng ly, tách và đồ dùng ăn uống riêng, phải rửa với nước nóng và xà phòng trước và sau khi sử dụng. Tạm thời cho bé nghỉ học. Dạy bé cách sử dụng khăn giấy che mũi và miệng khi hắt hơi hoặc ho để tránh sự lây lan. Rửa tay bằng xà phòng thường xuyên. Cắt móng tay cho bé để ngăn việc bé gãy khi vết ban gây ngứa.
Hội chứng phát ban nhiễm trùng thường gặp ở trẻ nhỏ. Biểu hiện của hội chứng này là sự xuất hiện ban ngoài da do các nguyên nhân vi-rút hoặc vi khuẩn, kí sinh trùng,.. trong đó đặc điểm ban ngoài da là yếu tố giúp chẩn đoán và điều trị phù hợp. 1. Hội chứng phát ban nhiễm trùng là gì? Sốt phát ban là tình trạng sau khi hết sốt trẻ sẽ xuất hiện nổi các đốm nhỏ bằng hoặc nhô lên trên da, thường gặp ở trẻ thường tự khỏi và sẽ khỏi nếu được nghỉ ngơi và uống thuốc đầy đủ. Trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh có thể gây sốt cao và dẫn đến biến sốt phát ban vô cùng phổ biến ở trẻ em trong độ tuổi từ 6 tháng đến 2 tuổi do lượng kháng thể truyền từ mẹ truyền cho trẻ đã giảm xuống và hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Sốt phát ban thường xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi 2. Các phát ban nhiễm trùng thường gặp Ban dạng sởi, dạng tinh hồng nhiệt. Loại ban dát hay sẩn, có thể rời rạc hay liền nhau, xuất hiện ở toàn thân, trừ lòng bàn tay, bàn chân. Ban sẽ mất đi khi căng tinh hồng nhiệt do liên cầu. Chẩn đoán bệnh dựa vào độ tuổi, đau họng cấp, ban dày đặc, không có khoảng da lành, nhiều ở chỗ nếp gấp, viền..., bong vảy thành mảng cuối cùng ban mờ Chẩn đoán dựa vào biểu hiện lâm sàng xuất hiện viêm long mũi họng, hạt Koplik trong miệng, tiến triển. Ban mọc tuần tự từ trên đầu đến chân, ban Rubella. Sự xuất hiện ban dạng sởi lần hai sau ban dạng tinh hồng nhiệt, hạch to, tăng bạch cầu đơn nhân, đau ban do dị ứng thuốc. Tất cả các thuốc đều có thể gây nên. Có thể gặp tất cả các dạng ban, thường ngứa xảy ra sau 1 ngày hoặc muộn, 9 ngày sau dùng kháng do Enterovirus. thường gây phát ban dạng sởi. Phát ban kèm theo các triệu chứng ít điển hình của nhiễm trùng giống như giả cúm, tiêu chảy, đau đầu, đau do virus Parvovirus B19. Khởi đầu ban mọc ở mặt, sau 48 giờ thì ban lan rộng ra tay chân hay ở gốc chi, có rìa đỏ bao quanh. Ban có có thể gặp ở gan bàn tay. Bệnh nhân không sốt, không ảnh hưởng đến toàn trạng, tự khỏi sau 3-4 tuần, không để lại biến gan virus B. Thường gặp ban ở mặt sau lan xuống tay chân hạch ngoại biên to, gan lách có thể to. Dị ứng thuốc kháng sinh có thể dẫn tới phát ban Ban do vi hồng gặp trong bệnh thương ban da dạng sởi gặp trong bệnh do Leptospira hay bệnh do dát của giang mai vòng đặc trưng của thấp tim, ban quầng của liên cầu, ban quầng như bệnh đóng dấu của lợn và viêm quầng mạn hướng nhiều đến nguyên nhân do bệnh do ký sinh trùng. Nguyên nhân do Toxoplasma, ban dạng sởi gặp ở mông, mặt hay gan bàn tay, chân. Kiểu ban mề đay khởi đầu đôi khi ban kiểu tinh hồng nhiệt là do nang Kawasaki. Biểu hiện sốt liên tục 7 ngày hoặc 2- 3 tuần, kèm theo xung huyết võng mạc, có ban miệng họng, môi khô nứt nẻ. Lưỡi viêm dầy, có hình phù nề dưới da lan đến tứ chi, ban dát sẩn màu tím ở gan bàn tay, chân, có ban tinh hồng nhiệt, ban dạng sởi đa hình thái, hạch cơ ức đòn chũm dạng nốt phỏng Thường là do virus, virus Herpes hay Enterovirus, Virus thuỷ đậu, ZonaVirus Herpes ở người Ban ở dạng từ ban đỏ đến nốt phỏng, ban ở da, niêm chứng tay - chân- miệng ở trẻ nhỏ, khởi đầu phát ban ở khoang miệng, ban phỏng nước dạng dạng có mủ do chốc mụn mủ chốc lở hay mủ do nhiễm trùng liên cầu hay tụ gan bàn tay, bàn chân do các nguyên nhân như Giang mai, Tay chân miệngBan đỏ nút Erythema nodosum. Là viêm da và tổ chức dưới da bán cấp do viêm mạch của các mạch lớn ở dưới da. Nốt có đường kính 2- 4cm, nổi gồ rõ, màu hồng sau đỏ dần lên. Nổi ban trong gan bàn chân do mắc tay chân miệng 3. Chăm sóc phòng bệnh cho trẻ bị sốt phát ban Sốt phát ban ở trẻ thường cần được chăm sóc tốt, tăng cường sức đề kháng cho trẻ, trẻ có thể hồi phục ly trẻ bị sốt phát ban với các trẻ khác vì vậy cho trẻ nghỉ ngơi trên giường, phòng sạch sẽ thoáng. Tránh tập trung đông ngườiRửa tay kỹ thường xuyên để tránh lây lan bệnh cho những người chưa bị trong gia đìnhHạ sốt cho trẻ đúng cách Nếu bé sốt cao từ 38,5°C trở lên, bạn có thể cho bé uống paracetamol theo đúng hướng dẫn của bác sĩ, chườm cho trẻ bằng nước ấmBổ sung đủ nước Bạn nên khuyến khích bé uống đủ nước, chất điện giải bù khoáng, nước chanh, nước ép trái cây tươi... để tránh mất nướcTăng cường dinh dưỡng đầy đủ đảm bảo dinh dưỡng cho trẻLau sạch mũi, vệ sinh răng miệng tránh bội nhiễm vi khuẩnVệ sinh cơ thể sạch sẽ thường xuyên, tránh kiêng gió, nướcTăng cường sức đề kháng cho trẻ cũng như các thành viên trong gia đình như vitamin C và các thực phẩm giàu vitamin CBệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Bị thủy đậu có ngứa không? Làm sao để không bị lây thủy đậu? Bị thủy đậu đã 2 tuần chưa khỏi có sao không? Dịch vụ từ Vinmec Bài viết liên quan
Sốt tinh hồng nhiệt là phát ban phổ biến nhất liên quan đến viêm họng do liên cầu “strep throat” ở lứa tuổi học đường và thanh thiếu niên. Khoảng 10% các trường hợp viêm họng do liên cầu có sốt tinh hồng nhiệt. Đó là một hội chứng đặc trưng bởi viêm họng xuất tiết, sốt và phát ban dạng sẩn màu đỏ tươi. 1. Nguyên nhân gây bệnh sốt tinh hồng nhiệt sốt phát ban Vi khuẩn gây bệnh là Streptococcus pyogenes nhóm A Liên cầu tan huyết nhóm A, một vi khuẩn gram dương tạo ra nội độc tố chịu trách nhiệm chủ yếu cho nhiễm trùng da. Liên cầu được tìm thấy trong dịch tiết tai, mũi, họng và da. Đường vào của vi khuẩn có thể từ các vết thương, vết bỏng nhiễm khuẩn hoặc nhiễm trùng đường hô hấp trên. Vi khuẩn lây truyền qua đường hô hấp, qua dịch tiết từ các tổn thương da do liên cầu nhóm A hoặc qua đường tiêu hóa khi dùng chung cốc uống nước, bát đĩa với người bị bệnh. Hiếm khi vi khuẩn có thể lây truyền thông qua thực phẩm không được xử lý đúng cách. Bệnh được chẩn đoán chủ yếu dựa trên lâm sàng, khi được chẩn đoán sớm, tiên lượng bệnh thường tốt, hầu hết bệnh nhân phục hồi sau 4-5 ngày với triệu chứng da có thể kéo dài vài tuần, bệnh có thể tái diễn. 2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh sốt tinh hồng nhiệt – Thời gian ủ bệnh từ 1-4 ngày. – Bệnh thường xuất hiện đột ngột bằng một cơn sốt kèm theo đau họng, đau đầu, đau cơ, buồn nôn, ớn lành trẻ nhỏ có thể nôn, đau bụng, co giật. Sốt giảm nhanh trong 12-24 giờ sau khi bắt đầu điều trị kháng sinh, nếu không được điều trị, bệnh nhân sẽ sốt cao nhất vào ngày thứ 2 khoảng 39,5 – 40 độ C và kéo dài 5-7 ngày. – Tổn thương da xuất hiện 12-48 giờ sau khi bắt đầu sốt. Đầu tiên là các mảng đỏ ở dưới tai, cổ, ngực, nách. Phát ban đặc trưng là các sẩn đỏ sung huyết nhỏ như đinh ghim làm da trở nên thô ráp như giấy nhám ở ngực rồi lan ra tay, chân, thân trong vòng 34 giờ. Vị trí nổi bật ở vùng nếp gấp và vùng chịu áp lực như mông. Các mao mạch trở nên mỏng hơn và có thể bị vỡ, có thể thấy các vệt xuất huyết ở nách, khuỷu, bẹn, các vệt này có thể tồn tại 102 ngày sau khi phát ban biến mất. Trong trường hợp nặng, có thể xuất hiện các mụn nước nhỏ ở bụng, tay, chân. Tổn thương da kéo dài 4-5 ngày. Sau 7-10 ngày phát ban biến mất, bong da xuất hiện, đầu tiên ở ở mặt, bong da lòng bàn tay và ngón tay. Mức độ và thời gian của bong da phụ thuộc vào mức độ của phát ban. Vài tuần đến vài tháng sau, các đường ngang ở móng và rụng tóc có thể xuất hiện. – Niêm mạc thường có màu đỏ tươi, vòm miệng mềm thường xuất hiện các đốm xuất huyết rải rác hoặc các sẩn nhỏ màu đỏ. Vào ngày thứ 1 và thứ 2 của bệnh, lưỡi thường phủ một lớp màng trắng, qua đó các nhú đỏ nhô lên, đến ngày thứ 4 hoặc thứ 5, màng trắng bong ra để lộ bề mặt lưỡi đỏ tươi với các nhú nổi bật. Amidan đỏ, phù nề, tiết dịch. 3. Biến chứng của bệnh sốt tinh hồng nhiệt – Viêm tai giữa. – Viêm phế quản phổi – Viêm xoang – Viêm màng não – Áp xe não – Huyết khối xoang tĩnh mạch nội sọ – Nhiễm khuẩn huyết với viêm màng não – Viêm tủy xương và viêm khớp nhiễm trùng – Suy thận cấp do viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu – Viêm gan – Viêm ống dẫn tinh – Viêm màng bồ đào – Viêm cơ tim – Sốc nhiễm độc… Việc điều trị sốt tinh hồng nhiệt chú trọng ngăn ngừa sốt thấp khớp cấp tính, giảm sự lây truyền bệnh và rút ngắn thời gian bị bệnh. Cụ thể phác đồ điều trị sẽ được bác sĩ đưa ra sau khi đã thăm khám và kiểm tra kỹ lưỡng tình trạng của người bệnh. Cần biết rằng, sốt tinh hồng nhiệt nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Do đó, ngay khi phát hiện các dấu hiệu bất thường, cần đến ngay cơ sở y tế, các phòng khám để được bác sĩ thăm khám. Tham khảo thêm BỆNH PHONG VÀ NHỮNG TRIỆU CHỨNG KHÔNG THỂ BỎ QUA Bác sĩ Trần Thị Hồng Vân với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thẩm mỹ , làm đẹp , chăm sóc da, bác sĩ chính tại gsvvietnam . Xem thêm
Tinh hồng nhiệt là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp. Vụ dịch tinh hồng nhiệt sớm nhất là ở Sicile ý năm 1543. Khoảng thế kỷ XVII, người ta đã phân biệt tinh hồng nhiệt với bệnh sởi và gọi là scarlatine tinh hồng nhiệt TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ CHẨN ĐOÁN BẰNG XÉT NGHIỆM Tác nhân gây bệnh Tác nhân gây bệnh đến nay vẫn chưa được xác định. Trong những năm 1884- 1885, người ta đã chú ý đến những liên cầu khuẩn làm tan máu tìm thấy ở họng những người bị bệnh tinh hồng nhiệt. Những mãi đến năm 1923-1925. Dick mới chứng minh được vai trò bệnh căn của vi khuẩn này trong bệnh tinh hồng nhiệt. Nhà bác học này đã gây ra bệnh thực nghiệm cho người bằng liên cầu khuẩn dung huyết phân lập từ họng người bệnh, và đã tạo được miễn dịch cho người bằng những chế phẩm liên cầu khuẩn nuôi cấy. Sau này lại thấy phản ứng Dick với độc tố liên cầu khuẩn tiêm trong da dương tính ở những người tiếp thu bệnh tinh hồng nhiệt. Những người phản đối thuyết này đã đưa ra nhiều luận cứ quan trọng Liên cầu khuẩn dung huyết thường thấy ở họng 50-70% những người lành mạnh và ở những người mắc bệnh khác thí dụ bệnh bạch hầu. Không có một tiêu chuẩn nào để phân biệt liên cầu khuẩn dung huyết tinh hồng nhiệt với các liên cầu khuẩn dung huyết khác. Miễn dịch tạo ra ở người bằng các chế phẩm từ liên cầu khuẩn dung huyết còn đang nghi ngờ. Bệnh tinh hồng nhiệt gây miễn dịch lâu dài, trong khi đó, những bệnh khác rõ ràng là do liên cầu khuẩn dung huyết gây ra như quá trình mưng mủ, viêm quầng không có miễn dịch bền vững, mà còn có khi tạo ra nhạy cảm đối với sự nhiễm lại thí dụ ở bệnh viêm quầng. Người ta cũng đã tách được từ họng người bị bệnh tinh hồng nhiệt những virut có thể là tác nhân gây bệnh. Nói đúng hơn, tác nhân gây bệnh tinh hồng nhiệt là một liên hợp virut đặc hiệu và liên cầu làm tan huyết. Đó là kết luận của hội nghị quốc tế ở ý năm 1956 dành để thảo luận đặc biệt về vấn đề này. Giải quyết dứt khoát vấn đề bệnh căn của tinh hồng nhiệt là rất khó, bởi vì không có động vật thí nghiệm thích hợp để gây bệnh thực nghiệm. Chỉ có một vài loại khi giống như người là tiếp thu bệnh này ở mức độ thấp. Liên cầu khuẩn có cấu trúc kháng nguyên khác nhau gây ra vài chục typ huyết thanh. Nhưng tất cả các liên cầu khuẩn đó đều sinh ngoại độc tố giống nhau. Sức chịu đựng của liên cầu khuẩn ở ngoài cơ thể giống vi khuẩn bạch hầu, nhưng liên cầu khuẩn chết nhanh chóng hơn ở khô hanh, cho nên cơ chế truyền bệnh bằng bụi không thể thực hiện được như trong bệnh bạch hầu. Trong khi đó, liên cầu có thể sông lâu trong thức ăn, đặc biệt là trong sữa và những thức ăn có đường, cho nên ngoài bệnh tinh hồng nhiệt, chúng có thể gây những đợt bột phát ngộ độc thức ăn. Bệnh sinh và biểu hiện lâm sàng. Tác nhân gây bệnh vào cơ thể ở niêm mạc đường hô hấp trên mũi, họng, amidan, đôi khi qua da, sinh sản ở đó; sau đó ngoại dộc tố xâm nhập vào cơ thể. Thời kỳ ủ bệnh là từ 3-5 ngày, tôi da là 12 ngày. Biểu hiện lâm sàng là sốt, viêm mũi họng và thanh quản, hiện tượng nhiễm độc và hồng ban. Liên cầu khuẩn có thể vào dòng máu để đến sinh sản ở các nội tạng và gây những biến chứng viêm tai có mủ, tổn thương ở tim, viêm thận, nhất là khi bị tái nhiễm hoặc bội nhiễm. Từ lâu người ta đã thấy rằng dịch tinh hồng nhiệt thường kèm theo dịch viêm amidan. Tác nhân gây bệnh được giải phóng dần dần cùng với các mô niêm mạc, da bị rụng ra khỏi cơ thể và quá trình này thường kết thúc khi hết triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên một số người bệnh trở thành người khỏi mang vi khuẩn. Tinh hồng nhiệt chỉ là một biểu hiện lâm sàng của tình trạng nhiễm liên cầu khuẩn. Các biểu hiện lâm sàng khác là viêm da có mủ, viêm quầng, viêm tim, khớp. Nguyên nhân của những hình thái này của nhiễm liên cầu khuẩn là lối vào của vi khuẩn, cấu trúc kháng nguyên, và độc tố của chúng. Có thể nói tinh hồng nhiệt là biểu hiện của sự nhiễm khuẩn ban đầu, còn viêm tim khớp xảy ra ở cơ thể đã có miễn dịch kháng dộc tố và nhạy cảm dối với nhiễm khuẩn. Chẩn đoán bằng xét nghiệm Chẩn đoán bằng xét nghiệm có thể tiến hành bằng cách tách liên cầu khuẩn từ thanh quản hoặc tìm độc tố của vi khuẩn và kháng thể ở trong máu. Nhưng phương pháp chẩn đoán bằng xét nghiệm không được thông dụng, vì liên cầu khuẩn rất phổ biến, thường thấy ở thanh quản những người lành mạnh, và vì không thể nào phân biệt được liên cầu khuẩn gây bệnh scarlatine với những liên cầu khuẩn khác cũng ở người lành mạnh. QUÁ TRÌNH TRUYỀN NHIỄM Nguồn truyền nhiễm Nguồn truyền nhiễm là người bệnh, người khỏi mang vi khuẩn và người lành mang vi khuẩn. Cơ chế truyền nhiễm Bệnh được lây chủ yếu qua không khí bằng giọt nhỏ. Người ta còn thực nhận khả năng truyền nhiễm qua thức ăn như sữa qua các đồ dùng và đồ chơi của người bệnh. Bệnh còn có thể lây qua tay bẩn và qua các dụng cụ y học tinh hồng nhiệt do vết thương, do bỏng, sau khi sinh đẻ. Tính cảm thụ và miễn dịch Mỗi người đều tiếp thụ được bệnh, cho nên tinh hồng nhiệt là bệnh chủ yếu của trẻ em dưới 14 tuổi. Miễn dịch sau khi bị bệnh rất bền lâu. Gần đây, do dùng nhiều kháng sinh, nên thấy có hiện tượng bị mắc bệnh lại. Miễn dịch có tính chất kháng độc tố và kháng vi khuẩn. Theo các quan sán dịch tễ học, miễn dịch trong một số trường hợp, được hình thành chậm, trong vòng nhiều tuần lễ. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ Tinh hồng nhiệt thấy chủ yếu ở trẻ em dưới 12-14 tuổi, tuy cũng có thể xảy ra ở người lớn. Trong tổng số người mắc bệnh tinh hồng nhiệt, trẻ em dưới 7 tuổi chiếm 72,7% trẻ em dưới 14 tuổi chiếm 97%. Tinh hồng nhiệt có tính theo mùa. Mức độ mắc bệnh tăng ở đầu mùa thu khi bắt đầu đi học và giảm trong mùa nghỉ học. Mức dộ mắc bệnh tuỳ thuộc vào mật độ dân chúng, cho nên mức độ mắc bệnh ở nông thôn thấp hơn so vứi ở thành phố. Kết quả là đa số thanh niên ở nông thôn không có miễn dịch, trong khi đó hầu hết trẻ em ở thành phố dưới 12 tuổi đã bị tinh hồng nhiệt và có miễn dịch. Tinh hồng nhiệt có tính chu kỳ. Cứ 3-5 năm lại xảy ra dịch lớn. Tính chu kỳ được điều chỉnh do tác động qua lại giữa miễn dịch của dân chúng và cơ chế truyền nhiễm bằng giọt nhỏ. Thời gian giữa các vụ dịch rất khác nhau tuỳ theo điều kiện sống cụ thể của dân chúng như cường độ của quá trình di cư trong những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai, số trường hợp mắc bệnh trong năm 1943 ở nhiều nước Tây Âu gấp 2-3 lần tổng số các trường hợp mắc bệnh trong suốt 11 năm trước chiến tranh 1928-1938. Trước đây 20-30 năm, tinh hồng nhiệt là một bệnh nặng ở trẻ em, thường kèm theo biến chứng như viêm tai có mủ dẫn tới điếc, viêm thận, suy tim với tỷ lệ tử vong cao 8-12%. Ngày nay, tinh hồng nhiệt trở thành một bệnh nhẹ ở trẻ em tỷ lệ tử vong ở khắp nơi đều ở mức thấp, dưới 0,1%. Việc sử dụng penix- illin chỉ giải thích một phần sự diến biến này, bởi vì tinh hồng nhiệt cũng diễn biến nhẹ ở những người bệnh không điều trị bằng kháng sinh. Rất có thể là do tính sinh độc tố của tác nhân gây bệnh bị giảm, hoặc do từ thế hệ này qua thế hệ khác, sức đề kháng của dân chúng đối với tinh hồng nhiệt đã tăng lên. BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ CHỐNG DỊCH Biện pháp chống dịch Chống bệnh tinh hồng nhiệt là một việc rất phức tạp. Vì tác nhân gây bệnh đến nay vẫn chưa được xác định. Các thể bệnh nhẹ làm cho việc chẩn đoán bệnh và việc phòng chống dịch càng thêm khó khăn. Các biện pháp chông dịch chỉ nhằm mục đích giảm tỷ lệ tử vung và ngăn ngừa các biến chứng. Tinh hồng nhiệt là một bệnh bắt buộc phải khai báo. Người bệnh có thể cách ly ở nhà hoặc ở bệnh viện tuỳ theo các chỉ định lâm sàng và chỉ định dịch tễ học, như trong bệnh sởi. cần phải đưa vào bệnh viện, các trẻ em nhỏ dưới 2 tuổi vì ở lứa tuổi này, tỷ lệ tử vong cao nhất và những người bệnh sống trong điều kiện vệ sinh thấp kém. Phải đưa người bệnh vào bệnh viện để đề phòng tái nhiễm và biến chứng bởi liên cầu khuẩn. Người bệnh có thể ra viện từ ngày thứ bảy đến ngày thứ mười hai nếu khỏi về lâm sàng; thậm chí có thể sớm hơn từ ngày thứ năm nếu điều trị bằng penix- illin. Tuy nhiên, những trẻ em dưới 12 tuổi và những người lớn làm việc ở các nhà trẻ, mẫu giáo, lớp 1 và lớp 2, chỉ được phép đi làm việc hoặc đến trường sau thời gian cách ly 12 ngày ở nhà, vì không thể xác định được là họ còn mang vi khuẩn hay không. Ở ổ bệnh không phải tẩy uế cuối cùng, chỉ cần lau rửa sàn nhà, các đồ dùng và làm thoáng khí buồng bệnh. Trong khi người bệnh còn nằm điều trị cũng làm thoáng khí buồng bệnh bằng cách chiếu tia cực tím. Nên tiến hành tẩy uế thường xuyên các đồ dùng hàng ngày và đồ đạc trong phòng bằng dung dịch cloramin 1%. Những người chăm sóc người bệnh phải đeo khẩu trang bằng gạc Trong ổ dịch, những trẻ em tiếp xúc với người bệnh phải cách ly trong 7 ngày, kể từ ngày cách ly người bệnh và tiến hành tẩy uế cuối cùng. Nên tiêm gamma-globulin cho những trẻ em đó. Phòng bệnh đặc hiệu Người ta chưa chế dược vacxin đặc hiệu. Những vacxin chế bằng liên cầu khuẩn chết hoặc bằng độc tố của chúng, hoặc bằng cả vi khuẩn và độc tố đều chỉ cho kết quả hạn chế và cần phải tiêm 3-5 lần. Việc sử dụng liều lượng kháng nguyên cao đã gây ra phản ứng mạnh, không khác nhiễm khuẩn liên cầu khuẩn mấy. Nhưng cố gắng chế một giải độc tố ít dộc hơn cũng thất bại. Như vậy việc tạo miễn dịch chủ động trong tinh hồng nhiệt còn là một vấn đề phải giải quyết. Việc dùng gamma-globulin để tạo miễn dịch thụ động cũng cho kết quả hạn chế.
bệnh tinh hồng nhiệt